Monday, May 14, 2012

[Thủ thuật] Tự sửa các lỗi đơn giản trên máy in

Trong lúc in, bạn thường gặp một số lỗi đơn giản như tài liệu bị đốm mực, thứ tự trang in bị ngược, lề bản in không đúng với bản trên máy tính... Những thủ thuật sau sẽ giúp bạn vận hành máy in bình thường.

Xem thêm: http://kenhdaihoc.com/forum/showthread.php?t=3873


1. Trật tự trang in bị ngược


- Triệu chứng: Trong lúc đợi bản in đầu tiên “ra lò”, bạn chợt nhận thấy rằng trang cuối cùng ra trước và trang đầu tiên lại “lẽo đẽo” ra sau cùng. Thực ra, chuyện này không hề ảnh hưởng đến chất lượng in, nhưng sẽ khiến cho bạn phải tốn công sắp xếp lại trật tự các trang.




- Chẩn đoán: Thiết lập máy in bị sai do “bấm nhầm” hoặc lỗi trình điều khiển, hệ điều hành làm phát sinh lỗi này. Dân kỹ thuật gọi hiện tượng này là lỗi Front to Back.

- Khắc phục:

+ Đối với Windows XP, bạn vào menu Start > Settings > Printers and Faxes, nhấn phải chuột vào biểu tượng máy in đang lỗi và chọn Properties. Trong thẻ General, bạn nhấn nút Printing Preferences. Tiếp tục, tại mục mục Page Order của thẻ Layout, bạn chọn lại thành Front to Back > Apply > OK.




+ Với Windows Vista/7, bạn vào Start > Control Panel > Hardware and Sound > Devices and Printer > chọn tên máy in bị lỗi. Sau đó, nhấn chọn Display Printer Properties và thiết lập tương tự như trên Windows XP.






2. Canh lề và ngắt dòng của bản in không đúng với văn bản gốc trên máy


- Triệu chứng: Các lề của trang giấy sau khi in bị hẹp, đôi khi mất chữ hoặc thừa quá nhiều. Điều này làm mất tính thẩm mỹ của trang in.

- Chẩn đoán: Bạn chưa thiết lập lại cỡ giấy in chính xác cho văn bản. Chẳng hạn, văn bản dạng Letter (21,59 x 27,94 cm) nhưng bạn lại in trên khổ A4 hay ngược lại.



- Khắc phục: Trong trường hợp này, từ chương trình của bộ Office 2003, bạn vào File > Page Setup (hoặc vào thẻ Page Layout > nhấn nút mũi tên ở góc phải để vào Page Setup – đối với bộ Office 2007/2010). Tiếp tục, bạn nhấn thẻ Paper trong hộp thoại Page Setup và sau đó xem trong mục Paper Size để biết loại giấy chương trình sẽ dùng để in tài liệu. Nếu bạn thấy mục Paper Size là A4 - 21x29.7 cm thì đây là một khổ giấy tiêu chuẩn. Nhấn Cancel trong hộp thoại Page Setup và thực hiện các bước sau đây để giải quyết vấn đề này:


+ Đối với Office 2003, bạn vào Tools > Options để mở hộp thoại tùy chọn > vào thẻ Print > đánh dấu vào tùy chọn Allow A4/Letter Paper Resizing > nhấn OK.


+ Đối với Office 2007/2010, bạn nhấn vào Office Button > Word Options > chọn thẻ Advanced > kéo xuống mục Print > đánh dấu trước tùy chọn Scale content for A4 or 8.5 x11” paper sizes > OK.

+ Tiến hành in tài liệu bình thường.

Chú ý: Bạn phải thiết lập cỡ giấy in trong chương trình soạn thảo trùng với cỡ giấy đang dùng của máy in để có bản in đẹp nhất.




3. Không thể in được và liên tục báo lỗi


- Triệu chứng: Khi in, máy báo lỗi “in thất bại” This document failed to print – xem hình.


- Chuẩn đoán: Rất có thể bạn chưa bật máy in hoặc chưa cắm điện nguồn, hoặc chưa được quyền in trong mạng nội bộ.




- Khắc phục: Với máy in cục bộ, bạn phải kiểm tra để xem dây nguồn của máy in đã được cắm vào ổ điện, máy in đã được bật và nối với máy tính thành công hay chưa. Còn đối với máy in trong mạng, bạn cần kiểm tra thêm dây cáp kết nối giữa máy tính và máy in, và đặc biệt cần xem xét lại quyền sử dụng máy in mạng có thiết lập dành cho mình hay không. Bạn dùng phép loại trừ các trường hợp nêu trên để có cách khắc phục đúng.




4. Xuất hiện các đốm mực trên tài liệu được in ra


Đây là trường hợp khá phổ biến do người dùng máy in bảo quản giấy không đúng cách. Chính điều này đã dẫn đến giấy bị ẩm khi in, hay sử dụng giấy in kém chất lượng. Bên cạnh đó yếu tố về chất lượng mực in đang sử dụng cũng cần xem xét lại. Hướng giải quyết cho trường hợp này cũng khá đơn giản, bạn cần mang máy ra dịch vụ để họ làm vệ sinh cho thiết bị đầu in và thay thế giấy in có chất lượng hơn.



5. Bạn không thể in các đường viền trang


Đa số các máy in không thể in text hay hình ảnh nằm quá gần mép của trang. Theo mặc định, các đường viền nằm gần mép của trang, đây là lý do tại sao máy in của bạn không thể xử lý chúng. Cách giải quyết sự cố này như sau:

+ Chọn Format > Borders and Shading > chuyển qua thẻ Page Boder > nhấn nút Options để mở hộp thoại Borders and Shading Options.




+ Bên dưới Margin, bạn nhập các kích cỡ (tính theo điểm ảnh) lớn hơn vào các hộp Top, Bottom, Left và Right để di chuyển các đường viền hơi ra xa khỏi mép của trang. Nếu muốn đường viền trang ôm sát đoạn văn bản thì trong mục Measure from, chọn Text > OK > OK.




+ Đối với Office 2007, bạn qua thẻ Page Layout > Page Boder > Options > thiết lập như trên phiên bản Office 2003.





6. Văn bản in thiếu hình ảnh


- Triệu chứng: Văn bản in ra mặc dù text hiện đầy đủ nhưng hình ảnh lại biến mất, thay vào đó là các vùng trắng trống trơn.




- Chẩn đoán: Có thể máy tính của bạn bị thiếu bộ nhớ (Low Memory).




- Khắc phục: Thực hiện trình tự các bước sau:




+ Thử tắt máy, khởi động lại máy tính và in lại. Nếu vẫn không khắc phục được, hãy kiểm tra những khả năng dưới đây :




+ Trong Word 2003, bạn chọn File > Print > nhấn nút Options trong hộp thoại Print. Từ cửa sổ Print thứ hai, bạn nhấn dấu chọn trước Drawing Object > OK. Cũng tại đây, hãy đánh dấu vào hộp kiểm Draft Output để yêu cầu Word in các tài liệu với ít định dạng (format) hơn. Tùy chọn này dùng để làm việc với các tài liệu trong giai đoạn sửa bản in.




+ Đối với Word 2007, bạn vào Office Button > Word Options > chọn thẻ Display > đánh dấu trước tùy chọn Print drawings created in Word.









7. Header và Footer xuất hiện không chính xác hoặc thiếu


Nếu header và footer của bạn không nằm vừa trên trang, không có đủ chỗ trống trong lề dành cho header hay footer hoặc chúng nằm trong phần không in ra của trang.




Để tạo nhiều chỗ trống hơn cho các header và footer, hãy chọn File > Page Setup > chọn thẻ Margin trong hộp thoại Page Setup và phóng to lề trên và lề dưới. Tiếp đó, bạn qua thẻ Layout và tăng khoảng cách From Edge để header và footer không bị đẩy vào phần không in của trang.







Lưu ý: Để sử dụng máy in được hiệu quả, bạn nên chọn mua chủng loại giấy in theo đúng yêu cầu của sách hướng dẫn đi kèm, không nên mua những giấy in kém chất lượng như quá mỏng có thể dẫn đến trường hợp kẹt giấy, và không để giấy in trong môi trường ẩm ướt vì có thể dẫn đến hiện tượng dính các đốm mực trên giấy.








Ngoài ra, việc thường xuyên cập nhật trình điều khiển (driver) cho máy in từ website của nhà sản xuất để cải thiện hoạt động của máy in như sửa lỗi các sự cố in ấn trong máy và có thêm nhiều tính năng mới. Cuối cùng, bạn nên dành thời gian vệ sinh máy in hàng tuần, không để bụi bẩn bám vào máy in hay giấy vụn sót lại trong máy vì sẽ dẫn đến hiện tượng kẹt giấy, và nhất là bạn phải giữ cho đầu in (printhead) luôn được sạch.

Nguồn: QTM
Xem thêm: http://kenhdaihoc.com/forum/showthread.php?t=3873

Khái niệm mạng máy tính căn bản nhất

Với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, hiện nay các mạng máy tính đã phát triển một cách nhanh chóng và đa dạng cả về quy mô, hệ điều hành và ứng dụng. Do vậy việc nghiên cứu chúng ngày càng trở nên phức tạp. Tuy nhiên các mạng máy tính cũng có cùng các điểm chung thông qua đó chúng ta có thể đánh giá và phân loại chúng.


I. Định nghĩa mạng máy tính


Mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được nối với nhau bởi đường truyền theo một cấu trúc nào đó và thông qua đó các máy tính trao đổi thông tin qua lại cho nhau.


Đường truyền là hệ thống các thiết bị truyền dẫn có dây hay không dây dùng để chuyển các tín hiệu điện tử từ máy tính này đến máy tính khác. Các tín hiệu điện tử đó biểu thị các giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on - off). Tất cả các tín hiệu được truyền giữa các máy tính đều thuộc một dạng sóng điện từ. Tùy theo tần số của sóng điện từ có thể dùng các đường truyền vật lý khác nhau để truyền các tín hiệu. Ở đây đường truyền được kết nối có thể là dây cáp đồng trục, cáp xoắn, cáp quang, dây điện thoại, sóng vô tuyến ... Các đường truyền dữ liệu tạo nên cấu trúc của mạng. Hai khái niệm đường truyền và cấu trúc là những đặc trưng cơ bản của mạng máy tính.





Hình 2.1: Một mô hình liên kết các máy tính trong mạng


Với sự trao đổi qua lại giữa máy tính này với máy tính khác đã phân biệt mạng máy tính với các hệ thống thu phát một chiều như truyền hình, phát thông tin từ vệ tinh xuống các trạm thu thụ động... vì tại đây chỉ có thông tin một chiều từ nơi phát đến nơi thu mà không quan tâm đến có bao nhiêu nơi thu, có thu tốt hay không.


Đặc trưng cơ bản của đường truyền vật lý là giải thông. Giải thông của một đường chuyền chính là độ đo phạm vi tần số mà nó có thể đáp ứng được. Tốc độ truyền dữ liệu trên đường truyền còn được gọi là thông lượng của đường truyền - thường được tính bằng số lượng bit được truyền đi trong một giây (Bps). Thông lượng còn được đo bằng đơn vị khác là Baud (lấy từ tên nhà bác học - Emile Baudot). Baud biểu thị số lượng thay đổi tín hiệu trong một giây.


Ở đây Baud và Bps không phải bao giờ cũng đồng nhất. Ví dụ: nếu trên đường dây có 8 mức tín hiệu khác nhau thì mỗi mức tín hiệu tương ứng với 3 bit hay là 1 Baud tương ứng với 3 bit. Chỉ khi có 2 mức tín hiệu trong đó mỗi mức tín hiệu tương ứng với 1 bit thì 1 Baud mới tương ứng với 1 bit.


II. Phân loại mạng máy tính


Do hiện nay mạng máy tính được phát triển khắp nơi với những ứng dụng ngày càng đa dạng cho nên việc phân loại mạng máy tính là một việc rất phức tạp. Người ta có thể chia các mạng máy tính theo khoảng cách địa lý ra làm hai loại: Mạng diện rộng và Mạng cục bộ.


Mạng cục bộ (Local Area Networks - LAN) là mạng được thiết lập để liên kết các máy tính trong một khu vực như trong một toà nhà, một khu nhà.


Mạng diện rộng (Wide Area Networks - WAN) là mạng được thiết lập để liên kết các máy tính của hai hay nhiều khu vực khác nhau như giữa các thành phố hay các tỉnh.


Sự phân biệt trên chỉ có tính chất ước lệ, các phân biệt trên càng trở nên khó xác định với việc phát triển của khoa học và kỹ thuật cũng như các phương tiện truyền dẫn. Tuy nhiên với sự phân biệt trên phương diện địa lý đã đưa tới việc phân biệt trong nhiều đặc tính khác nhau của hai loại mạng trên, việc nghiên cứu các phân biệt đó cho ta hiểu rõ hơn về các loại mạng.


III. Sự phân biệt giữa mạng cục bộ và mạng diện rộng


Mạng cục bộ và mạng diện rộng có thể được phân biệt bởi: địa phương hoạt động, tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền, chủ quản của mạng, đường đi của thông tin trên mạng, dạng chuyển giao thông tin.


Địa phương hoạt động: Liên quan đến khu vực địa lý thì mạng cục bộ sẽ là mạng liên kết các máy tính nằm ở trong một khu vực nhỏ. Khu vực có thể bao gồm một tòa nhà hay là một khu nhà... Điều đó hạn chế bởi khoảng cách đường dây cáp được dùng để liên kết các máy tính của mạng cục bộ (Hạn chế đó còn là hạn chế của khả năng kỹ thuật của đường truyền dữ liệu). Ngược lại mạng diện rộng là mạng có khả năng liên kết các máy tính trong một vùng rộng lớn như là một thành phố, một miền, một đất nước, mạng diện rộng được xây dựng để nối hai hoặc nhiều khu vực địa lý riêng biệt.


Tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền: Do các đường cáp của mạng cục bộ đươc xây dựng trong một khu vực nhỏ cho nên nó ít bị ảnh hưởng bởi tác động của thiên nhiên (như là sấm chớp, ánh sáng...). Điều đó cho phép mạng cục bộ có thể truyền dữ liệu với tốc độ cao mà chỉ chịu một tỷ lệ lỗi nhỏ. Ngược lại với mạng diện rộng do phải truyền ở những khoảng cách khá xa với những đường truyền dẫn dài có khi lên tới hàng ngàn km. Do vậy mạng diện rộng không thể truyền với tốc độ quá cao vì khi đó tỉ lệ lỗi sẽ trở nên khó chấp nhận được.


Mạng cục bộ thường có tốc độ truyền dữ liệu từ 4 đến 16 Mbps và đạt tới 100 Mbps nếu dùng cáp quang. Còn phần lớn các mạng diện rộng cung cấp đường truyền có tốc độ thấp hơn nhiều như T1 với 1.544 Mbps hay E1 với 2.048 Mbps.


(Ở đây bps (Bit Per Second) là một đơn vị trong truyền thông tương đương với 1 bit được truyền trong một giây, ví dụ như tốc độ đường truyền là 1 Mbps tức là có thể truyền tối đa 1 Megabit trong 1 giây trên đường truyền đó).


Thông thường trong mạng cục bộ tỷ lệ lỗi trong truyền dữ liệu vào khoảng 1/107-108 còn trong mạng diện rộng thì tỷ lệ đó vào khoảng 1/106 - 107


Chủ quản và điều hành của mạng: Do sự phức tạp trong việc xây dựng, quản lý, duy trì các đường truyền dẫn nên khi xây dựng mạng diện rộng người ta thường sử dụng các đường truyền được thuê từ các công ty viễn thông hay các nhà cung cấp dịch vụ truyền số liệu. Tùy theo cấu trúc của mạng những đường truyền đó thuộc cơ quan quản lý khác nhau như các nhà cung cấp đường truyền nội hạt, liên tỉnh, liên quốc gia. Các đường truyền đó phải tuân thủ các quy định của chính phủ các khu vực có đường dây đi qua như: tốc độ, việc mã hóa.


Còn đối với mạng cục bộ thì công việc đơn giản hơn nhiều, khi một cơ quan cài đặt mạng cục bộ thì toàn bộ mạng sẽ thuộc quyền quản lý của cơ quan đó.


Đường đi của thông tin trên mạng: Trong mạng cục bộ thông tin được đi theo con đường xác định bởi cấu trúc của mạng. Khi người ta xác định cấu trúc của mạng thì thông tin sẽ luôn luôn đi theo cấu trúc đã xác định đó. Còn với mạng diện rộng dữ liệu cấu trúc có thể phức tạp hơn nhiều do việc sử dụng các dịch vụ truyền dữ liệu. Trong quá trình hoạt động các điểm nút có thể thay đổi đường đi của các thông tin khi phát hiện ra có trục trặc trên đường truyền hay khi phát hiện có quá nhiều thông tin cần truyền giữa hai điểm nút nào đó. Trên mạng diện rộng thông tin có thể có các con đường đi khác nhau, điều đó cho phép có thể sử dụng tối đa các năng lực của đường truyền hay nâng cao điều kiện an toàn trong truyền dữ liệu.


Dạng chuyển giao thông tin: Phần lớn các mạng diện rộng hiện nay được phát triển cho việc truyền đồng thời trên đường truyền nhiều dạng thông tin khác nhau như: video, tiếng nói, dữ liệu... Trong khi đó các mạng cục bộ chủ yếu phát triển trong việc truyền dữ liệu thông thường. Điều này có thể giải thích do việc truyền các dạng thông tin như video, tiếng nói trong một khu vực nhỏ ít được quan tâm hơn như khi truyền qua những khoảng cách lớn.


Các hệ thống mạng hiện nay ngày càng phức tạp về chất lượng, đa dạng về chủng loại và phát triển rất nhanh về chất. Trong sự phát triển đó số lượng những nhà sản xuất từ phần mềm, phần cứng máy tính, các sản phẩm viễn thông cũng tăng nhanh với nhiều sản phẩm đa dạng. Chính vì vậy vai trò chuẩn hóa cũng mang những ý nghĩa quan trọng. Tại các nước các cơ quan chuẩn quốc gia đã đưa ra các những chuẩn về phần cứng và các quy định về giao tiếp nhằm giúp cho các nhà sản xuất có thể làm ra các sản phẩm có thể kết nối với các sản phẩm do hãng khác sản xuất.

ST


Xem thêm: http://kenhdaihoc.com/forum/showthread.php?t=3874

Tìm hiểu về Hệ thống số nhị phân(bibary)

Hệ thống số ta dùng hằng ngày là Thập Phân (Decimal). Thập là 10, có nghĩa là ta dùng 10 dấu hiệu khác nhau để viết một con số. Khi đếm từ 0 đến 9 ta viết ra liên tục các dấu hiệu 0,1,2,3,4,5,6,7,8,9. Đến đây, nếu tiếp tục đếm tiếp ta sẽ không còn dấu hiệu nào nữa. Do đó ta dùng lại số 0 và bắt đầu hàng chục như 10,11,12,13 ..v.v cho đến 19 rồi tăng hàng chục lên nữa thành 20,21,22, .vv. Hãy xem con số 7354. Con số nầy biểu diển ( 7*1000 + 3*100 + 5*10 + 4 ) đơn vị. Lưu ý hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm và hàng ngàn. Ngàn có nghĩa là 10 lũy thừa 3, trăm có nghĩa là 10 lũy thừa 2, chục có nghĩa là 10 lũy thừa 1 và đơn vị có nghĩa là 10 lũy thừa 0 (nhớ rằng 10 lũy thừa 0 thì bằng 1). Nói một cách khác nếu ta đi dọc theo con số từ phải qua trái thì lũy thừa 10 (còn gọi là base 10 của thập phân) tăng lên từ từ.

Trong hệ thống số Nhị Phân (Binary) ta chỉ dùng có hai dấu hiệu 0 và 1 để viết ra một con số. Nếu ta đếm từ 0 đến 1 thì đã dùng hết các dấu hiệu rồi. Nếu muốn tiếp tục đếm ta phải dùng lại dấu hiệu 0 và bắt đầu hàng hai, tức là con số hai trong hệ thống Nhị Phân được viết là 10. Như thế trong Nhị Phân con số 1111 biểu diển ( 1*8 + 1*4 + 1*2 + 1 ) đơn vị, trong đó ta biết rằng 8 có nghĩa là 2 lũy thừa 3, 4 có nghĩa là 2 lũy thừa 2, 2 có nghĩa là 2 lũy thừa 1 và đơn vị có nghĩa là 2 lũy thừa 0.

Ngược lại, để đổi một số Thập Phân ra Nhị Phân ta tìm cách trừ ra những multiple của 8,4,2, .v.v. Thí dụ bắt đầu từ số 75 Thập Phân, ta trừ 64 (tức là 2 lũy thừa 6) ra sẽ còn lại 11, kế đó trừ 8, rồi trừ 2 như trong bảng dưới đây:


75 - 64 = 11
11 - 8 = 3
3 - 2 = 1
Vậy 75 = 1*64 + 0*32 + 0*16 + 1*8 + 0*4 + 1*2 + 1
Do đó 75 (Thập Phân) = 1 0 0 1 0 1 1 (Nhị Phân)

Cách cộng hai con số Nhị Phân cũng tương tợ như trong hệ thống Thập Phân, tức là ta dùng cách đếm. Trong thực tế ta có thể đổi hai con số Nhị Phân ra Thập Phân, cộng hai con số ấy trong hệ thống Thập Phân rồi đổi kết quả ra Nhị Phân trở lại.
Thí dụ:
Nhị PhânThập Phân
1 1 1 014
+1 1 0 113
27= 1 1 0 1 1

Ghi chú: 27 = 16 + 8 + 2 + 1 = 1*16 + 1*8 + 0*4 + 1*2 + 1

Muốn làm toán trừ thì ta đếm ngược thay vì đếm xuôi.
Một Byte thì có 8 bits. Mỗi Byte có thể có giá trị từ 0 đến 255. Con số 255 Thập Phân thì bằng 11111111 Nhị phân . Vì số Nhị Phân rất dài và khó nhận diện nên người ta thường gom từng nhóm 4 bits thành một số trong hệ thống Thập Lục Phân (Hexadecimal). Đó là vì 2 lũy thừa 4 thì bằng 16. Trong hệ thống Thập Lục Phân ta dùng 16 dấu hiệu khác nhau: 0,1,2,3,4,5,6,7,8,9,A,B,C,D,E,F. Con số Nhị Phân 11111111 thì bằng FF trong Thập Lục Phân. muốn đổi một số Thập Phân ra Nhị Phân ta có thể đổi nó ra Thập Lục Phân trước rồi biến mỗi con số Thập Lục Phân ra 4 bits.

Thí dụ: 237 Thập Phân (237= 14*16 + 13) đổi ra ED Thập Lục Phân, rồi E (nhớ là E = 14 Thập Phân) ra1110 và D (nhớ là D = 13 Thập Phân) ra 1101.

Để phân biệt các bits trong một Byte, ta gọi Least Significant Bit (LSB) là Bit0 và Most Significant Bit (MSB) là Bit7.
Ta nói trong con số Hex FF tất cả các bits đều bằng 1 hay đều set.


Thí dụ:
Số Thập Lục Phân B7=10110111
Bit76543210
Giá trị của bit1286432168421
Bạn nên học thuộc bảng giá trị của các bits trên đây. Ngoài ra hãy nhớ Bit8=256, số lớn nhất của Byte là 255.
Bit10 = 1024 (cở một Kílô).
Một số Nhị phân mà Bit0=0 thì chắc chắn là một số chẳn.
Số Nhị Phân thường được dùng trong các bài toán Luận Lý (Logical), số 1 được dùng biểu diễn giá trị True, số 0 cho False. Các Logical Operation thông dụng là:
ORKhi một trong hai Bit là 1 thì kết quả là 11 0 1 0 OR 0 1 1 0 = 1 1 1 0
ANDChỉ khi cả hai Bit đều là 1 thì kết quả là 11 0 1 0 AND 0 1 1 0 = 0 0 1 0
XOR(Exclusive OR)Khi hai Bit có giá trị đối nhau thì kết quả là 11 0 1 0 XOR 0 1 1 0 = 1 1 0 0

Con số Nhị Phân thứ nhì trong một Logical AND operation còn được gọi là MASK (mặt nạ) , ý nói chỉ bit nào của số Nhị Phân thứ nhì là 1 thì xuyên qua nó ta mới thấy cái bit (nằm cùng một vị trí) của số Nhị Phân thứ nhất . Thí dụ nếu MASK là 11000000 thì ta chỉ có thể thấy được Bit7 và Bit6 của số Nhị Phân thứ nhất, kết quả của Logical AND operation chắc chắn sẽ cho các bits 0 đến 5 đều bằng 0.

Một thí dụ MASKing là đổi một character từ lowercase ra uppercase. Ta biết Ascii value của "a" là Hex 61, còn Ascii value của "A" là Hex 41. Nếu ta apply lên character "a" cái MASK Hex 41, tức là 61 AND 41 = 41 (hay 01100001 AND 01000001 = 01000001 ). , nói một cách khác ta reset hay clear bit5 của "a", thì kết quả sẽ là "A".

Trong TCP/IP network configuration ta apply Subnet Mask lên IP address để nhận diện NetworkID.
Thí dụ: IP Address: 192.16.24.69 , Subnet Mask: 255.255.255.0 (hay FF.FF.FF.0). Do đó NetworkID=192.16.24.0


Trích từ: http://kenhdaihoc.com/forum/showthread.php?t=3871